Trang chủ > Giáo dục, Xã hội > Bàn về “tinh thần đại học”

Bàn về “tinh thần đại học”


 

Sau những ngày miệt mài ôn luyện, những ngày qua, các thí sinh đã kết thúc cuộc thi vào các trường đại học, giờ đây đang sống trong tâm trạng chờ đợi kết quả và ai cũng cầu mong mình sẽ là tân khoa của ngôi trường đại học hằng mơ ước. Nhân dịp này chúng tôi muốn bàn thêm “Thế nào là tinh thần đại học?”

 

 

Đại học Paris được lập ra ở thế kỷ thứ X với lý tưởng, mục tiêu nhiệm vụ chủ yếu là để phục vụ nhà thờ, cho nên chỉ chú tâm vào việc đào tạo ra các triết gia, những nhà thần học, những nhà quản trị giáo hội, rồi đặt ra những giáo luật, đối với chức năng của nhà nước thì đặt ra những luật pháp (dân luật).

 

Cho tới mãi thế kỷ XVII, các trường đại học ở châu Âu vẫn giữ quan niệm truyền thống về “tinh thần đại học” là đào tạo ra những trí thức ưu tú cho các công việc phục vụ, quản lý, điều hành giáo hội, nhà nước. Nói theo ngôn ngữ hiện đại là đào tạo ra những cán bộ, quan chức cao cấp phục vụ chính quyền, nhà nước hay tôn giáo.

 

Năm 1802, Đại học Berlin muốn vượt ra khỏi những quan niệm của các đại học châu Âu cũ với một tinh thần mới: đại học phải là một nơi giảng dạy, ươm mầm cho những công việc sáng tạo. Đó là một tinh thần rất tiến bộ, rất mới.

 

 

 

Trong phòng thi tuyển sinh đại học. Ảnh: Quỳnh Vinh

 

 

 

Năm 1901, Đại học Harvard ra đời (đại học lấy tên của vị mục sư Harvard – thuộc học phái “Trường Xuân” là người khởi sự và đóng góp nhiều công sức để xây dựng và phát triển ngôi trường đại học này). Lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ (tinh thần đại học) được nêu ra là: làm việc, phục vụ, vì chân lý (tìm kiếm, phát hiện, phát minh ra những chân lý mới để phục vụ quốc gia và nhân loại).

 

Các trường đại học danh tiếng của Mỹ được xây dựng và phát triển chủ yếu dựa theo “tinh thần đại học” của Đại học Berlin: đề cao sự sáng tạo, luôn tìm kiếm, phát minh ra những cái mới. Tinh thần này cũng là tinh thần chủ đạo, cốt lõi của mọi trường đại học của châu Âu trong thời hiện đại.

 

Chính vì vậy, một tiêu chí bậc nhất để xét bằng tốt nghiệp, cấp bằng học vị cho những sinh viên, những nghiên cứu sinh  ở cấp độ đại học cũng như trên đại học là phải đưa ra được “cái mới” ở lĩnh vực mình nghiên cứu so với đồng nghiệp đi trước trong luận văn, luận án được trình.

 

Các trường đại học ở Việt Nam cũng tuân thủ tiêu chí này, nhưng “cái mới” trong những luận văn, luận án của sinh viên, nghiên cứu sinh của ta được trình ra, đặc biệt trong thực trạng của một nền giáo dục đại học thời bao cấp, mặc dù được thừa nhận nhưng có thể nói những “cái mới” đó còn rất “đáng ngờ” và đã để lại hậu quả rất nặng nề, kéo dài mãi về sau…

 

Việt Nam có số lượng các nhà khoa học, các giáo sư, tiến sĩ khá nhiều, nhưng lại có những bằng sáng chế, những công trình khoa học có giá trị rất ít, chất lượng giáo dục đại học, sau đại học; chất lượng quản lý khoa học không cao… Tuy vậy nhiều người nhận thấy trong lĩnh vực khoa học nói chung và giáo dục đại học và sau đại học nói riêng của Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng nên đã cổ vũ: “Việt Nam cố lên!” và chúng ta đang cố.

 

Đến thời nay, “tinh thần đại học” của thời hiện đại như chúng tôi đã nêu trên vẫn còn nguyên những giá trị, vẫn là những tiêu chí, những mục tiêu để các trường đại học xây dựng và phấn đấu. Tuy nhiên ở vào thời kỳ hậu hiện đại phải có cái nhìn mới để chỉnh sửa, bổ sung thêm cho hay hơn, tốt hơn. Trong lĩnh vực đào tạo giáo dục đặc biệt ở môi trường đại học và sau đại học, vấn đề học tập thế nào để tìm kiếm, phát hiện, sáng tạo ra cái mới phải có cách nhìn nhận khác trước.

 

Trước đây những người đi học, nói rõ hơn những người lấy công việc “đèn sách” làm sự nghiệp của đời mình, đặc biệt là ở châu Á thì mục đích tối thượng của công việc học tập là để có bằng cấp này, học vị kia, có nghĩa là rất coi trọng học vấn.

 

Có học vấn rộng tức là có bằng cấp, học vị cao, cũng đồng nghĩa với những cơ hội tốt để được thăng tiến quan chức, gia tăng quyền lực. Học để nâng cao, mở rộng cái biết – kiến thức (La savoir). Đặc điểm của sự học này là phát huy trí óc tối đa ở khả năng thuộc, nhớ.

 

Do cần cù, siêng năng “dùi mài kinh sử”, nhiều người đã đạt đến một vốn kiến thức rất rộng rãi và sâu sắc trong lĩnh vực chuyên môn của mình, thậm chí còn cố gắng học, đọc thêm để thuộc, nhớ mọi điều đông tây kim cổ khác và đã được ví như một cuốn từ điển bách khoa sống, được người đời rất kính trọng, nể phục.

 

Những người học tập kiểu này khi đi thi cử có khả năng đỗ đạt rất cao. Lịch sử trong nền giáo dục đào tạo, học hành, thi cử của Việt Nam đã chứng minh rất rõ điều này: Trong quá khứ đó là những tiến sĩ đã được tôn vinh trên các tấm bia đặt trên lưng rùa ở Văn Miếu.

 

Thời hiện đại, nhiều thí sinh đã đỗ thủ khoa trong các kỳ thi trung học phổ thông, đại học; không ít những lưu học sinh của ta học ở các trường đại học nước ngoài đã đỗ bằng xanh, bằng đỏ, rồi trong các kỳ thi quốc tế ở nhiều bộ môn, các thí sinh của Việt Nam đều được xếp hạng ở tốp cao, đạt nhiều huy chương vàng, huy chương bạc…

 

Nhưng giờ đây với “tinh thần khoa học hậu hiện đại” vẫn coi trọng nhưng không đề cao cách học đó nữa. Vì học tập kiểu đó chủ yếu mới chỉ đạt được những kiến thức cố định của nền học vấn mà những người đi trước đã tạo dựng nên, mà muốn rằng: học tập thế nào để tạo ra những kiến thức mới. Tinh thần khoa học hậu hiện đại và “tinh thần đại học” của thời kỳ hậu hiện đại là học không phải để biết, mà học để sáng tạo.

 

Cho nên, không đề cao cái học chỉ để có thêm cái biết – kiến thức, mà đề cao cái học để biết nhận thức (La connaissance), nói rõ hơn là cái học để tiếp sức, gia tăng, nâng cao năng lực (capacité) hay có thể gọi là năng lượng (énergie) nhận thức để khám phá, sáng tạo ra những điều mới mẻ. Tất nhiên để làm được điều đó phải có nền tảng cơ bản, sâu rộng của cái biết – kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn của mình

 

Trong cuộc hội thảo vừa qua về “Thế nào là tinh thần đại học”, có vài ý kiến đồng tình rằng: “mục tiêu của đại học không phải tạo ra các luật sư, các bác sĩ hay kỹ sư có kỹ năng mà tạo ra những con người có năng lực (tư duy) và có văn hóa…”, (được dẫn theo lời một nhà giáo dục nước ngoài), hay “đại học không phải là nơi giảng dạy chuyên môn, chuyên ngành mà là một trung tâm văn hóa”… Những ý kiến này không sai nhưng chưa đầy đủ, nhất là với tinh thần khoa học hậu hiện đại ngày nay.

 

Ngày nay thời kỳ hậu công nghiệp, khoa học ngày càng trở thành một lực lượng sản xuất chủ yếu. Phát triển nền kinh tế tri thức là mục tiêu, là chiến lược quan trọng của nhiều quốc gia, của các xã hội hiện đại. Nói đến “nền kinh tế tri thức” có nhiều vấn đề, khía cạnh để bàn.

 

Ở đây chỉ bàn ở khía cạnh: tri thức là lực lượng nòng cốt, là nhân vật trung tâm, nhân vật chính để phát triển nền kinh tế ở lĩnh vực cần trí tuệ và chuyên môn cao, thì vấn đề tạo ra nguồn nhân lực này thì nơi nào đào tạo ra họ? Tất nhiên không phải là những trường dạy nghề mà thực ra những trường cao đẳng dạy nghề cũng không đáp ứng nguồn lực lao động có trí tuệ, chuyên môn cao ở cấp độ là những chuyên gia được, mà phải là những trường đại học.

 

Cho nên khi nói đến “tinh thần đại học” giờ đây còn phải đề cao thêm tinh thần thực học, có nghĩa là các đại học ngoài giảng dạy cho các sinh viên phát triển những năng lực nhận thức để tìm kiếm, khám phá ra những cái mới trong lĩnh vực nghiên cứu của mình, còn phải đào tạo thế nào để cho học vấn, kiến thức mà họ đạt được có thể dùng được, dụng được (pragmatique) cũng là một trong những yêu cầu cấp thiết và đặc biệt đối với truyền thống về sự học của Việt Nam bị chủ nghĩa hình thức chi phối nặng nề, chỉ coi trọng bằng cấp danh tiếng, không chú ý tới thực chất nên dẫn đến kết quả là khi bắt tay vào làm việc thực sự ở những chuyên ngành được học đã không làm được.

 

Các đối tác nước ngoài đến làm việc ở Việt Nam, khi tuyển chọn những người có bằng cấp, học vị chuyên môn, chuyên  ngành mà họ cần thì phải chọn hơn 100 người mới được một người. Trong khi đó ở phương Tây cứ 5 người thì chọn được một.

 

Cho nên tính hiệu quả có được nhờ sự phát huy tích cực tinh thần lực học, dụng học của tinh thần khoa học, tinh thần đại học của thời kỳ hậu hiện đại sẽ loại cái kiểu học cốt chỉ đạt được tấm bằng làm bùa hộ mệnh, để làm sang, để làm quan ra khỏi cuộc chơi.

 

Ai đã có những bằng cấp, học vị cao, nếu giờ đây muốn đến làm việc ở Trường Đại học Oxford của Anh quốc, những người có trách nhiệm tuyển chọn sẽ hỏi: Thành tích về chuyên môn của anh là gì? Anh có những sáng tạo gì mới? Thậm chí có thể hỏi thêm: sáng tạo mới đó của anh có bán được không? (vì cái mới đó chỉ là cái khác, cái lạ, cái độc đáo, xét về tính hiệu quả không cao thì ít có giá trị).

 

Rồi lại hỏi: Anh có còn khả năng sáng tạo tiếp nữa không? Anh có khả năng tìm ra những nguồn kinh phí để tài trợ cho các chương trình nghiên cứu của nhà trường  không? Chỉ vài câu phỏng vấn ngắn gọn của người tuyển dụng như vậy cũng đã nói lên khá rõ “tinh thần đại học” của thời đại mới.

 

Có thể nói giáo dục đào tạo đại học luôn có hai nhiệm vụ quan trọng. Đào tạo ra các nhà chuyên môn, các chuyên gia (L’expert) ở các ngành và đào tạo các nhà bác học (Le savant) trong mọi lĩnh vực. Còn việc giảng dạy lý tưởng, đạo đức, các kiến thức về nghệ thuật, thậm chí cả triết học, tôn giáo không phải là nhiệm vụ chính của các trường đại học, các vấn đề này phải được học liên tục thường xuyên ở mọi cấp học trước đó: từ lúc học sinh cắp sách tới trường đến hết phổ thông trung học – tức là từ 6 tuổi đến 18 tuổi, từ lúc bắt đầu hình thành phát triển nhân cách đến lúc nhân cách đã định hình về mặt cơ bản và học những vấn đề này theo kiểu thấm dần từng bước, từ ít tới nhiều, từ thấp lên cao, không khác gì trồng cây, phải ươm mầm, và chăm sóc từ lúc cây còn non, để cây lớn, cứng già  rồi mới bắt đầu chăm sóc thì đã quá muộn. Các nước phát triển, văn minh đều đưa vào giảng dạy những vấn đề này từ rất sớm đối với học sinh. Ở ta vì nhiều hoàn cảnh nên chưa thực hiện được…

 

Nói đến chuyên gia là nói đến sự tài ba, tinh thông về chuyên môn (thiên về kiến thức cố định) và nói đến bác học là nói đến năng lực tư duy, năng lực sáng tạo (xây dựng kiến thức ở dạng mở). Những nhà chuyên gia luôn chú tâm đến những cái “tất nhiên”, những cái “ổn định”, còn các nhà bác học lại luôn chú ý tới những cái “bất ngờ”, những cái “đứt đoạn”, những cái “nhảy vọt”.

 

Cùng được đào tạo học tập như nhau, nhưng ai sẽ trở thành chuyên gia, ai sẽ trở thành nhà bác học là do tố chất, năng khiếu, tính cách, sở trường, sở đoản… của từng người. Nhưng chắc chắn cả hai người này đều là những con người có thành tích học tập rất tốt trong thời sinh viên, và đều có lý trí và một trái tim mạnh. Cả hai loại người này rất cần cho khoa học và xã hội. Nước mình cũng đã có những người như thế…


  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: