Lưu trữ

Posts Tagged ‘trung quốc’

Trung Quốc tử hình 4 tên khủng bố ở Tân Cương

Cảnh sát Trung Quốc tấn công những kẻ khủng bố ở Tân Cương (Nguồn: Tân Hoa xã)
Tân Hoa Xã ngày 15/9 cho biết Trung Quốc đã kết án tử hình bốn tên khủng bố tham gia vụ bạo loạn tại Khu tự trị Tân Cương hồi tháng Bảy vừa qua, sau khi Bắc Kinh cam kết trấn áp “chủ nghĩa khủng bố” tại khu vực này.

Theo trang web nhà nước “tianshannet.com”, bốn kẻ trên đã bị kết tội hôm 14/9 là âm mưu và cấu kết với các tổ chức khủng bố, chế tạo thuốc nổ trái phép, giết người và đốt phá. Ngoài ra, còn có hai kẻ đồng phạm khác, mỗi tên lĩnh 19 năm tù giam.

Các vụ xét xử trên liên quan tới vụ tấn công vào đồn cảnh sát tại thị trấn Hotan hôm 18/7 vừa qua, khiến 4 người thiệt mạng, ngoài ra còn có hai vụ tấn công khác diễn ra ngày 30 và 31/7 ở thị trấn Kashgar, khiến 13 người thiệt mạng.

Mới đây, Đảng Hồi giáo Đông Thổ (TIP) đã cho công bố một đoạn băng ghi hình mới nhận trách nhiệm về những cuộc tấn công nói trên.

Nhóm tình báo SITE (Mỹ) cho hay đoạn băng trên được cho là do Đảng Hồi giáo Turkistan (TIP) đòi độc lập cho khu tự trị Tân Cương của Trung Quốc làm ra. Nhóm chiến binh của tổ chức này được cho là có căn cứ tại Pakistan.

Còn theo Tân Hoa Xã ngày 1/8, chính quyền Khu tự trị Tân Cương cho hay, những kẻ gây ra các vụ tấn công gần đây đã được đào tạo tại nước ngoài.

Điều tra ban đầu cho thấy những kẻ cầm đầu nhóm trên đã được đào tạo các kỹ năng làm chất nổ và súng tại các trại ở nước ngoài của nhóm khủng bố mang tên “Phong trào Hồi giáo Đông Thổ Nhĩ Kỳ” (ETIM), có trụ sở tại Pakistan, trước khi vào Tân Cương tổ chức các hoạt động khủng bố./.

(Vietnam+)

Trung Quốc đã thua “canh bạc” Libya như thế nào?

TTCT – “Tập đoàn dầu hỏa CNPC vừa chấm dứt sáu dự án hải ngoại của mình, thiệt hại khoảng 1,2 tỉ NDT” – Tân Hoa xã Anh ngữ 22-8-2011 loan báo. Đây là “tai biến ngoài ý muốn” của “canh bạc” thay đổi quyền lực ở Libya trong sáu tháng qua mà Trung Quốc phải gánh chịu sau khi phe nổi dậy lật đổ ông Gaddafi.

 

Một chuyến tàu chở các lao động Trung Quốc tại Libya hồi hương – Ảnh: dailycaller.com

 

Các dự án hải ngoại vừa bị chấm dứt đó của Trung Quốc chính là các dự án đầu tư ở Libya, trong đó có các dự án khai thác dầu hỏa của Tập đoàn dầu hỏa quốc gia CNPC. Trước đó, cùng ngày 22-8, khi quân nổi dậy đang tiến vào Tripoli, Bắc Kinh đã vội lên tiếng yêu cầu Libya (“chung chung” không nêu danh chế độ Libya nào) bảo vệ các dự án đầu tư của mình, sau khi một thành viên phe nổi dậy lên tiếng đe rằng các công ty dầu hỏa Trung Quốc có nguy cơ mất hợp đồng vì đã không hậu thuẫn phe nổi dậy trong cuộc chiến chống chế độ Muammar Gaddafi (1).

 

Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, 75 công ty, xí nghiệp nước này đã đầu tư vào Libya khoảng 50 dự án với tổng vốn khoảng 18,8 tỉ USD.

Tuy nhiên, Trung Quốc cũng cho thấy họ đang ẩn nhẫn chờ thời qua tuyên bố của Văn Trọng Lượng, phó vụ trưởng Vụ Ngoại thương, Bộ Thương mại Trung Quốc: “Chúng tôi hi vọng Libya, sau khi ổn định trở lại, sẽ tiếp tục bảo vệ lợi ích và quyền lợi của các nhà đầu tư Trung Quốc. Chúng tôi hi vọng được tiếp tục đầu tư và hợp tác kinh tế với Libya” (2).

 

Trung Quốc nay có là “nạn nhân” của chế độ mới sẽ ra mắt ở Libya không có gì là khó hiểu. “Ân đền oán trả” trên là rất thường tình sau những vụ thay đổi chế độ. Càng không là ngoại lệ trong trường hợp Libya, nay phe nổi dậy đang “tính sổ” sau sáu tháng giao tranh đẫm máu với chế độ Gaddafi.

Từ lá phiếu thuận nghị quyết 1970…

Thật ra, ban đầu Trung Quốc cũng không mặn mà gì với việc bảo vệ chế độ Gaddafi trước công luận quốc tế sau những vụ đàn áp đẫm máu người biểu tình.

Trong phiên họp hôm thứ bảy 26-2-2011, Hội đồng Bảo an (HĐBA) Liên Hiệp Quốc, trong đó Trung Quốc là thành viên thường trực có quyền phủ quyết, đã tuyệt đối thông qua (15/15 phiếu) nghị quyết 1970 (3) phê phán việc vi phạm nhân quyền mạnh mẽ và có tính hệ thống của chính quyền Libya, đàn áp những người phản kháng ôn hòa, lên án việc chính phủ cấp cao nhất kích động đối nghịch và bạo lực chống lại thường dân. HĐBA cũng đã quyết định cấm vận vũ khí Libya, phong tỏa tài sản các cá nhân lãnh đạo…

Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc Lý Bảo Đông đã giải thích lá phiếu của nước ông như sau: “Trung Quốc quan ngại sâu sắc trước tình hình hiện nay ở Libya. Trong mắt chúng tôi, cần khẩn thiết đảm bảo ngưng bắn tức khắc, tránh đổ máu thêm nữa và tổn thất nơi thường dân, khôi phục ổn định và trật tự bình thường càng sớm càng tốt, và giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay bằng các phương tiện hòa bình, tỉ như đối thoại. An toàn và lợi ích của người nước ngoài tại Libya phải được đảm bảo qua tiến trình này…”.

Như vậy Trung Quốc cũng lên án việc chế độ Gaddafi đàn áp đẫm máu, đồng thời đồng thuận các biện pháp cấm vận vũ khí, kinh tài, sau khi đã quan sát phản ứng của các nước châu Phi và Ả Rập.

 

Một thành viên quân nổi dậy ở Libya ngồi tại điểm kiểm soát lối vào cảng dầu hỏa Ras Lanuf ngày 27-8 – Ảnh: Reuters

 

…Đến lá phiếu trắng nghị quyết 1973

Sang đến ngày 17-3-2011, HĐBA Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết 1973 (10 nước bỏ phiếu, 5 nước bỏ phiếu trắng). Nghị quyết 1973 (4) này yêu cầu nhà chức trách Libya tiến hành mọi biện pháp để bảo vệ thường dân, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của họ, cho phép các quốc gia thành viên hành động phối hợp với tổng thư ký Liên Hiệp Quốc tiến hành mọi biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ thường dân cùng các khu vực dân thường sinh sống đang bị đe dọa tấn công, kể cả ở Benghazi, ấn định lệnh cấm mọi chuyến bay trên không phận Dân quốc Ả Rập Libya nhằm giúp bảo vệ thường dân…

Bằng nghị quyết 1973, tuy chỉ 10 phiếu thuận và 5 phiếu trắng, HĐBA Liên Hiệp Quốc đã bật đèn xanh cho một hành động can thiệp quân sự vào Libya tuy vẫn loại trừ mọi lực lượng chiếm đóng ngoại quốc dưới mọi hình thức tại bất cứ phần lãnh thổ nào của Libya.

Hôm ấy, đại sứ Trung Quốc đã bỏ phiếu trắng cùng với đại diện của bốn nước khác là Đức, Brazil, Ấn Độ và Nga. Năm lá phiếu trắng này tuy không tán thành các hành động can thiệp song cũng không bác bỏ, mang dáng dấp của một sự phân cực mới mang tính tranh chấp kinh tế hơn. Đức là đầu tàu kinh tế châu Âu, không chung lợi ích kinh tế với các nước EU “chủ chiến” là Anh và Pháp. Trung Quốc cùng Brazil, Ấn Độ và Nga thì đang trong một tập hợp các cường quốc kinh tế mới nổi lên gọi là BRIC, còn được gọi là Big Four (Tứ đại gia).

Chỉ sáu tháng sau cuộc bỏ phiếu nghị quyết 1973 đó, quân nổi dậy tiến vào thủ đô Tripoli. Abdeljalil Mayouf, phụ trách truyền thông của Hãng dầu Agoco trong tay phe nổi dậy Libya, cho biết phe nổi dậy không phiền hà gì việc các công ty phương Tây lưu lại Libya, song tình hình sẽ rất căng đối với các công ty của Nga, Trung Quốc và Brazil (5).

Kịch liệt phê phán can thiệp

Hai ngày sau khi nghị quyết 1973 được thông qua, liên quân bắt đầu oanh kích Libya (19-3). Không đầy một tuần sau, hôm 25-3, Trung Quốc đã nhanh chóng lên tiếng yêu cầu ngưng bắn ngay lập tức. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du phát biểu: “Phải tăng cường nhắm đến mục tiêu nhân đạo ở Libya và đừng làm trầm trọng hơn nữa tình hình vốn dĩ đã là bi thảm”.

Phải có gì đó đặc biệt lắm mới khiến Trung Quốc giãy nảy lên như thế. France 24h ngày 25-3-2011 giải thích: “Từ mấy năm qua, cùng với nhiều nước khác của lục địa châu Phi, Libya đã trở thành một đối tác kinh tế quan trọng của Trung Quốc, với hàng tỉ đôla đầu tư. Đùng một cái, vụ can thiệp quân sự vào Libya đã làm thay đổi cục diện! Các vụ oanh tạc không chỉ buộc Trung Quốc phải hồi hương 35.000 người, mà còn phương hại đến lợi ích của họ”.

Deborah Brautigam, chuyên viên về quan hệ Trung Quốc – châu Phi thuộc ĐH Washington, giải thích với France 24h về lý do Bắc Kinh ra sức lên án các vụ không kích vào Tripoli: “Hạ tầng cơ sở kinh tế của Trung Quốc tại Libya bị trúng đạn, công nhân phải hồi hương. Không phản đối thì sẽ bị dân chúng trách là không biết bảo vệ lợi ích.

Thật ra Trung Quốc cũng không muốn trở mặt với HĐBA, do lẽ Trung Quốc còn cần HĐBA che chắn lâu dài trong các vụ việc liên quan đến Đài Loan hay Tây Tạng. Trung Quốc đã nghe ngóng “nhịp đập” của Liên minh châu Phi cùng các nước Ả Rập để quyết định. Nếu Liên đoàn Ả Rập không ủng hộ việc thiết lập vùng cấm bay thì Trung Quốc cũng đố dám làm ngơ cho qua.

Tuy nhiên, Trung Quốc đã không thể có được sự hậu thuẫn trọn vẹn từ phía các nước châu Phi. Trung Quốc cố gắng tháo gỡ lệnh cấm vận cho chế độ Mugabe ở Zimbabwe, song hậu thuẫn của châu Phi rất ư là lỏng lẻo. Trong số 52 quốc gia châu Phi này, bất cứ nước nào cũng có thể trở mặt ngay” (6).

Cứu quan hệ như cứu hỏa

Chỉ bốn ngày sau khi chiến dịch không kích bắt đầu, hôm 22-3 Trung Quốc đã phải xếp lại chuyện làm ăn ở Libya. Press Trust of India cho biết: “Trung Quốc đã quyết định ngưng mọi hoạt động đầu tư ở đất nước Bắc Phi này sau khi có những báo cáo tổn thất từ các công ty của mình”.

AFP ngày 25-3 thêm một chút chi tiết: “Tập đoàn dầu hỏa CNPC cho hay một số cơ sở của họ bị tấn công ở Libya. CNPC không cho biết chi tiết thiệt hại tại các địa điểm này, song theo công ty này, toàn thể 391 nhân viên Trung Quốc của công ty tại Libya đều an toàn, và việc di tản bắt đầu với 24 người đã về đến Trung Quốc”. AFP cho biết các công nhân Trung Quốc ở Libya làm việc trong lĩnh vực dầu hỏa, đường sắt và viễn thông.

Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, 75 công ty, xí nghiệp nước này đã đầu tư vào Libya khoảng 50 dự án với tổng vốn khoảng 18,8 tỉ USD. Thiệt hại trực tiếp do bom đạn hay gián tiếp do chiến sự khiến đình trệ là bao nhiêu chưa rõ, chỉ biết riêng Công ty dịch vụ dầu hỏa COSL trong báo cáo quý 2 đã khai lỗ 65,7 triệu NDT.

Hôm 25-8, tức ba ngày sau các tuyên bố hốt hoảng ban đầu, một quan chức khác đã cho thấy Trung Quốc đang tích cực tìm cách “chuyển bại thành thắng”. Phát ngôn viên Bộ Thương mại Thẩm Đan Dương tuyên bố: “Trung Quốc sẵn sàng tiến hành hợp tác với các đối tác Libya và đóng góp một cách tích cực vào việc tái thiết Libya”. Hứa hẹn sau cùng này có vẻ như hiện thực với sức mạnh kim tiền mà Trung Quốc đang có trong tay.

HỮU NGHỊ

__________

(1), (2) “La Chine craint que la Libye ne lui ferme son robinet”, 25-08-2011, latribune.fr
(3) Security Council 6491st meeting, Saturday, 26 February 2011, 8 p.m.
(4) Resolution 1973 (2011) adopted by the Security Council at its 6498th meeting, on17 March 2011
(5) La Chine craint que la Libye ne lui ferme son robinet, La Tribune.fr, 25-08-2011
(6) La Chine durcit le ton contre la coalition internationale: 25/03/2011

Trung Quốc điều chỉnh giảm tốc độ tàu cao tốc

Một tàu cao tốc rời khỏi nhà ga phía nam thủ đô Bắc Kinh. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Bắt đầu từ ngày 28/8, tất cả các tàu cao tốc chở khách trên khắp Trung Quốc đều phải giảm tốc độ.

Đây là kế hoạch điều chỉnh lại tốc độ của tàu cao tốc nhằm tăng cường độ an toàn sau vụ tai nạn tàu cao tốc cách đây hơn một tháng ở nước này, làm 40 người chết.

Kế hoạch trên liên quan đến 498 đoàn tàu cao tốc, chạy trên các tuyến đường sắt chính ở Trung Quốc như Bắc Kinh-Cáp Nhĩ Tân, Bắc Kinh-Quảng Châu và Bắc Kinh-Thượng Hải.

Những tàu trước đây chạy với tốc độ 350km/giờ nay giảm xuống còn 300km/giờ.

Tương tự với những đoàn tàu chạy 250km/giờ trước đây, giờ đây phải giảm vận tốc xuống 200km/giờ,… Giá vé tàu vì vậy cũng sẽ được giảm 5%.

Sau vụ tai nạn tàu cao tốc nghiêm trọng xảy ra ngày 23/7 ở thành phố Ôn Châu (tỉnh Triết Giang), Chính phủ Trung Quốc ra lệnh tổng kiểm tra mức độ an toàn của tất cả các tuyến đường sắt cao tốc, đồng thời tạm đình chỉ việc thông qua những dự án mới về xây dựng đường sắt cao tốc.

Theo Bộ Đường sắt Trung Quốc, trước khi kế hoạch trên có hiệu lực, một số đoàn tàu cao tốc ở nước này đã thực hiện giảm tốc độ./.

(TTXVN/Vietnam+)

Thoát Trung Luận


Thời gian gần đây, khi thảo luận về những nguy cơ đối với nước ta trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, về lựa chọn mô hình phát triển cho Việt Nam, về tình hình tranh chấp Biển Đông …, một số người thuộc giới trí thức trong và ngoài nước, dù chưa chính thức, cũng đã ít nhiều đi đến một nhận định chung: Cần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc!

Tuy nhiên, nhận định này chưa bao giờ được viết ra một cách mạch lạc, có hệ thống, và dường như chỉ mới dừng ở mức trực giác. Vì thế, một bài luận nhằm phân tích rõ ràng về nhận định quan trọng này là cần thiết.

*

*          *

Tư tưởng thoát khỏi Trung Quốc thực ra không hề mới. Lịch sử nước ta có thể được diễn giải tương đối đầy đủ dưới góc nhìn thoát Trung. Phần lớn các cuộc khởi nghĩa, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta đều mang trong mình một thông điệp nóng hổi: Thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc!

Sự kiện dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa và giành lại được độc lập sau gần một nghìn năm Bắc thuộc là một sự kiện hy hữu trên thế giới. Đó là kết quả của một quá trình thoát Trung bền bỉ kiên trì. Sau khi giành được độc lập, quá trình này được tiếp nối không chỉ ở các cuộc kháng chiến vệ quốc, mà còn ở các nỗ lực giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa ở các triều đại sau này.

Khi còn nhỏ, tôi đã từng ngạc nhiên khi đọc bài hịch của vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi ra trận: “Đánh cho để dài tóc.Đánh cho để răng đen…”.  Tôi đã tự hỏi, vì sao nhà Vua không chọn những biểu tượng lớn lao hơn mà lại chọn những điều nhỏ nhặt như vậy để động viên quân sĩ? Nhưng càng ngày tôi càng thấm thía: Đó là lòng kiên định của tổ tiên nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa Trung Hoa, ngay từ những việc nhỏ nhất.

Ý thức vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này là thường trực. Tuy nhiều lúc bị chao đảo bởi sự tấn công mạnh mẽ đến từ phương Bắc, nhưng mỗi khi cần đến thì ý thức vùng thoát này lại bùng lên dữ dội. Nỗ lực xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc như chữ Nôm của cha ông, và gần đây nhất là việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này.

Riêng với việc chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, có thể nói, đây là một cuộc thoát Trung ngoạn mục. Thành quả của nó thật đáng nể: Số người biết đọc biết viết tăng lên gấp bội, số lượng văn bản sử dụng chữ quốc ngữ chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng lên gấp nhiều lần so với số văn bản chữ Nho của toàn bộ lịch sử nước ta trước đó. Cũng chính nhờ chữ quốc ngữ mà về mặt hình thức, ngôn ngữ của chúng ta đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tiếng Hán. Tỷ như đến giờ phút này, nước Việt ta vẫn dùng chữ Nho để viết và giao tiếp với thế giới, thì đối với họ, ta có khác nào một quận huyện của Trung Quốc? Ta sẽ gặp khó trong việc thuyết phục họ rằng, ta là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng.

Tên gọi của nước ta cũng không phải là một sự ngẫu nhiên. Đằng sau mỗi cái tên đều là một lời nhắn nhủ hoặc một mong đợi sâu thẳm. Ông cha ta đã chọn hai chữ Việt Nam để đặt làm tên nước. Việt Nam có nghĩa là tiến về phương Nam. Điều này có nghĩa là gì? Chỉ có thể cắt nghĩa: Tiến về phương Nam để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Đó là di lệnh của tổ tiên cho các thế hệ con cháu người Việt Nam mình.

Như thế, tổ tiên chúng ta bằng kinh nghiệm và trực giác, thông qua cách chọn tên nước, đã di lệnh cho con cháu: Muốn tồn tại thì phải tiến về phương Nam, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Lịch sử mở nước của chúng ta trong thời cận đại có thể  được hiểu là gì khác hơn việc thực hiện di lệnh của tổ tiên mình?

Nhưng điều không may cho chúng ta là nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng quá lớn. Nó như một đại nam châm hút các dân tộc xung quanh về phía mình. Nên dù luôn có ý thức vùng thoát khỏi ảnh hưởng của người Trung Quốc, dù đã được cha ông di lệnh kỹ càng, thì lịch sử của Việt Nam luôn là sự giằng xé giữa hai luồng vận động: Vùng thoát khỏi Trung Quốc và chầu về Trung Quốc.

Sở dĩ có sự giằng xé này là vì, trong suốt thời phong kiến, do sự hạn chế của phương tiện giao thông, thế giới bên ngoài đối với nước ta dường như chỉ có một mình Trung Quốc. Khi người của ta chưa đủ đông, kinh tế của ta chưa đủ mạnh, văn hóa của ta chưa đủ trưởng thành, thì việc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cũng là điều dễ hiểu.

Nhưng ngày nay, thời thế đã đổi thay. Một em bé sinh ra ở một vùng quê hẻo lánh cũng có đủ thông tin để biết rằng, thế giới không chỉ có một mình Trung Quốc. Thế giới còn có nhiều nền văn hóa khác, mang nhiều giá trị tiến bộ hơn, đáng học hỏi hơn nền văn hóa Trung Hoa, đến mức bản thân người Trung Quốc cũng phải mau mau thay đổi để học hỏi những điều tiến bộ này. Trên thực tế, những vùng nào của Trung Quốc gỡ bỏ được một phần văn hóa Trung Hoa truyền thống để du nhập các giá trị văn hóa phương Tây như các Hồng Kông, Đài Loan… thì đều phát triển vượt bậc so với những phần còn lại của Trung Quốc lục địa.

Nhiều nước châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore cũng đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thành công và trở thành những con rồng con hổ châu Á mới. Họ không chỉ giữ được độc lập, mà còn tiến nhanh thành một nước phát triển, được thế giới kính nể trọng vọng.

Hãy lấy trường hợp Nhật Bản làm ví dụ: Bằng cách thực hiện cuộc thoát Á nhập Âu từ nửa sau của thế kỷ 19, Nhật Bản đã tránh được ách nô lệ thực dân và phát triển thành cường quốc chỉ sau một thời gian ngắn. Thoát Á với Nhật Bản thời gian đó là gì, nếu không phải là thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa? Vì vậy có thể nói, chìa khóa để Nhật Bản phát triển thành công là thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Vậy thì tại sao chúng ta lại không làm như họ? Tại sao ta lại không vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc để phát triển, khi gương thành công đã bày ra trước mắt cả trăm năm, khi di lệnh của tổ tiên vẫn còn bên tai văng vẳng?

Câu trả lời chỉ có thể là: Tư tưởng chầu về Trung Quốc đã trở thành một quán tính tâm lý, một vô thức xã hội hay một phản xạ có điều kiện. Tư tưởng này đã ăn sâu vào đời sống ở nhiều dạng nhiều mặt nên khó lòng dứt bỏ được. Với người dân thì đó là sự tiếp nhận văn hóa Trung Hoa một cách vô tư hào hứng qua phim ảnh, sách báo… đến mức trẻ em thuộc sử Tàu hơn sử Ta, quen với đồ chơi Tàu hơn đồ chơi Ta. Thương nhân ta thì chỉ chăm chắm nhập hàng Trung Quốc giá rẻ về bán cho dân, dù biết là hàng kém và có nhiều độc hại. Ở mức quốc gia thì đó là sự ràng buộc đến mức vô lý về ý thức hệ vào người Trung Quốc, dẫn đến thua thiệt và bất bình đẳng trong bang giao quốc tế.

Những việc này đều diễn ra một cách trơn tru tự động, đến mức không mấy ai tự hỏi: Vì sao mọi chuyện lại quá dễ dàng như vậy? Câu trả lời hẳn nhiên là tư tưởng chầu về Trung Quốc đã bén rễ sâu trong tiềm thức của xã hội ta như một chất gây nghiện, tuy độc hại nhưng rất khó từ bỏ. Vì nếu từ bỏ thì sẽ gây ra đau đớn và chống chếnh phần nào. Nhưng từ xưa đến nay, có chất gây nghiện nào có lợi?

Trong hoàn cảnh đó, chỉ còn một cách duy nhất là quán chiếu để nhìn sâu hiểu kỹ tác hại của việc chầu về Trung Quốc, để thấy được mối nguy lâu dài của nó đối với đất nước thì may ra mới có thể dứt bỏ được.

Trước hết là về văn hóa: Có so sánh ra bên ngoài mới thấy, bản sắc văn hóa của ta quá đỗi mong manh. Lý do chính là văn hóa của ta đã bị áp đảo bởi văn hóa Trung Hoa trong suốt nhiều thế kỷ, nay càng bị áp đảo mạnh hơn bởi tiến bộ của phương tiện truyền thông. Nhiều người khi còn sống thì một chữ tượng hình bẻ đôi không biết, nhưng khi chết thì lại được cúng tế bằng các bài văn khấn chữ Nho. Chuông, khánh trong chùa dù mới đúc, cũng hết thảy được khắc bằng thứ chữ của người Hán dù chẳng ai đọc được. Truyền thanh truyền hình, tuy sống bằng tiền thuế của dân Việt Nam ta, lại ngày đêm truyền bá văn hóa Trung Hoa đến tận hang cùng ngõ hẻm. Thời sự hơn nữa thì phim về tổ tông được quay bên Trung Quốc, Vạn Lý Trường Thành được mang về Đà Lạt… Ôi thôi, biết bao nhiêu mà kể!

Xin hỏi: Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì? Có phải là bởi đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không? Chắc hẳn là không. Người ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Nay văn hóa của ta đang bị áp đảo mà dân ta lại vui vẻ cổ vũ chấp thuận, thì khác nào tay ta đã yếu, mắt ta đã chậm mà ta lại tự mua dây về bịt mắt trói tay mình?

Chính do sự áp đảo của văn hóa Trung Hoa nên những thói hư tật xấu của họ đã tìm được đất sống và tác oai tác quái ở ta. Nạn chuộng bằng cấp hư danh, tệ mua quan bán chức, thói tầm chương trích cú, ếch ngồi đáy giếng, ngông nghênh coi thường chân lý, bệnh phụ mẫu quan phương, chính trị thống soái …– những đặc trưng của văn hóa hủ nho Trung Quốc không hề giảm đi trên đất Việt Nam ta mà ngược lại, như rồng gặp nước, múa may phát triển tràn lan, biến hóa gây hại không biết bao nhiêu mà kể. Vì sao vậy? Vì không sáng tạo ra chỉ học đòi bắt chước, nên nhiều người mang lòng kính sợ, nhất nhất tuân theo không dám đổi thay, nên chỉ nhăm nhắm chầu về, nghiêm cẩn như học trò đối với ông thầy. 

Nay những thói hư tật xấu này đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của ta quá thể. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói hành dân, nịnh trên lừa dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến , nên không còn cách nào khác là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người.

Ta phải tự gỡ bỏ tấm khăn đang bịt mắt ta ra, phải vứt bỏ sợi dây đang trói buộc mình thì bàn tay khối óc mới được giải phóng, hoa thơm trái ngọt của sự sáng tạo mới được thành tựu. Còn như chỉ mê muội sùng kính những thứ người ta đã phải bỏ đi, thì mãi lếch thếch lôi thôi cũng là điều tất yếu!

Thứ hai là về kinh tế: Việt Nam ta đang bị áp đảo trong thương mại đối với người Trung Quốc. Nhập siêu từ họ lên đến 90% so với tổng nhập siêu của cả nước ta. Trong khi đó, xuất khẩu từ ta sang họ chỉ chiếm một phần rất nhỏ, lại chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng nông sản, là những thứ mà giá trị chẳng được bao nhiêu. Vậy có thể nói, về kinh tế, chúng ta đang phụ thuộc vào họ một cách nặng nề. Nền kinh tế của ta đang ở mức chông chênh, có thể sụp đổ khi họ chủ tâm đóng cửa.

Nhưng điều đáng lo hơn cả là những người có thẩm quyền lại không thấy sự bất thường này. Những dự án lớn hầu hết đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tỷ như, 90% các dự án tổng thầu gần đây đã rơi vào tay họ. Chất lượng của những công trình này rất kém, vì một lẽ giản đơn: Trình độ về công nghệ của họ còn thấp, việc tôn trọng môi trường và văn hóa bản địa họ chẳng quan tâm. Hàng hóa xuất phát từ Trung Quốc luôn bị thế giới cảnh báo là độc hại và kém chất lượng. Chính họ đã gây ra nhiều vấn nạn về văn hóa và môi trường trong nước họ. Vậy thử hỏi, vẫn những con người đó sang nước ta thì làm sao có thể làm tốt cho được?

Đáng tiếc thay, tư duy chộp giật, “sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi” của nhiều người có trách nhiệm đã dung túng tình trạng này, gây hại lâu dài cho nền kinh tế. Việc này ta phải trách ta trước hết, vì nếu ta không tiếp tay thì làm sao họ có thể tác oai tác quái. Tiếp tay cho họ hại mình, thời buổi cạnh tranh, hỏi có khác nào mua dây để tự trói chân mình. Mà đã mua dây để tự trói chân mình thì làm sao có thể đi nhanh đi xa cho được?

Chính vì thế, bên cạnh việc vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa về văn hóa, chúng ta cần tìm cách thoát khỏi vòng kiềm tỏa về kinh tế. Nhà nước cần có chính sách giảm thiểu nhập siêu từ Trung Quốc, khuyến khích người trong nước sản xuất kinh doanh. Người Việt phải xây dựng được một nền kinh tế độc lập so với người Trung Quốc, phải mở được những lối đi riêng, tạo dựng được những mô hình phát triển khác hẳn so với họ. Phải phấn đấu trở thành hội điểm đầu tư và thương mại toàn cầu. Việc này nói thì dễ mà làm thì rất khó. Nhưng không vì thế mà không gắng sức, vì tương lai dân tộc phụ thuộc phần nhiều vào chính chỗ này.

Thứ ba là về chính trị: Nước ta đang có một sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ đối với người phương Bắc. Họ làm gì thì sớm muộn ta cũng làm theo như bị thôi miên. Rất nhiều khổ đau trong lịch sử của ta đã có nguồn gốc từ việc làm theo như họ.

Dân ta khác, phong hóa của ta khác, đất đai vị thế của ta khác, vậy hà cớ gì ta phải dập khuôn theo? Đành rằng, trước đây ta chỉ biết đến Trung Hoa nên triều chính phải rập khuôn bắt chước, tuy đáng trách những có thể cảm thông. Nhưng nay thế thời đã đổi, thế giới đã mở rộng muôn phương, mà sao ta vẫn nhăm nhắm hướng về phương Bắc? Bao phen cửa nát nhà tan, bị đè đầu cưỡi cổ, mà sao vẫn chưa hết tỉnh hết mê? Lẽ nào, luồng tư tưởng chầu về Trung Quốc, tưởng chừng sẽ nhạt đi khi thế giới được mở rộng ra, lại một lần nữa giở trò mánh khóe kéo chìm ta xuống đáy?

Vì sao vậy? Vì đâu vậy? Vì sự u mê đã đến mức thâm căn cố đế, hay vì đặc quyền đặc lợi của một nhóm người? Di lệnh của tổ tiên và những bài học lịch sử vì sao không còn tác dụng? Dù câu trả lời là thế nào đi chăng nữa thì trên thực tế, sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ này đã gây ra nhiều thua thiệt cho ta trong quốc tế bang giao, làm mất đi nhiều cơ hội làm ăn của ta với thế giới bên ngoài. Người ngã xuống vì biên cương hải đảo ta cũng chẳng dám vinh danh… Hỡi ôi!

Thời thế đã đổi thay. Thế giới ngày nay không chỉ có một mình Trung Quốc. Đoàn thuyền ra khơi phần đông đều đi theo một hướng, vậy lẽ gì ta phải tách nhóm đi riêng với kẻ vẫn bắt nạt mình? Sợi dây trói tay trói chân gỡ ra còn chưa được, vậy cớ gì ta lại mua dây để tròng đầu tròng cổ ta thêm?

Và cuối cùng là chủ quyền bị đe dọa: Khi chân tay ta bị trói, đầu cổ ta cũng chẳng được tự do, mắt ta cũng bị buộc nhìn về một hướng, thì thân thể ta làm sao mà vẹn toàn tự chủ? Sự trỗi dậy của người Trung Quốc tất yếu dẫn đến việc họ mở rộng biên giới quốc gia. Tranh chấp với xung quanh là điều khó tránh khỏi. Điều này họ đã công khai thừa nhận. Biển Đông đã nổi sóng. Giờ việc ta cần làm là hãy nhanh nhanh tự cởi trói cho mình, làm cho ta hùng mạnh thêm lên thì mới có thể giữ được vẹn toàn cương thổ.

Khi lực ta còn yếu thì mắt ta phải nhìn xa trông rộng, phải tìm cách kết thân với những kẻ có thế có quyền, có cùng lợi ích cùng mối lo âu để đồng tâm đối phó. Muốn vậy ta phải thiện chí thành tâm, đặt lợi ích quốc gia lên trên những tính toan nhỏ nhặt. Tình thế đã trở nên nguy ngập. Nước Việt ta đang đứng trước một lựa chọn lịch sử: Thoát Trung để phát triển hay cam tâm làm nô lệ một lần nữa?

Là người Việt, không ai muốn trở thành nô lệ ở bất cứ dạng nào. Điều này có nghĩa, lựa chọn duy nhất là vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người Trung Quốc để phát triển.

Vậy thì, hãy làm một cuộc thoát Trung toàn diện để hội nhập cùng thế giới và kiến tạo một kỷ nguyên phát triển mới!

Hãy tỉnh cơn mê, dứt cơn mộng mị! Hãy từ bỏ chất gây nghiện chầu về Trung Quốc! Hãy cởi bỏ tấm khăn bịt mắt! Hãy vứt sợi dây đang trói tay, trói chân, tròng cổ, tròng đầu!

Hãy trở về với di lệnh của tổ tiên: Thoát Trung hay là chết!

Giáp Văn Dương

Nguồn: http://www.viet-studies.info

 

 

Vụ lao động TQ không phép: Pháp luật chưa được thực thi

TT – “Nhà thầu Trung Quốc không chỉ đưa sang Việt Nam máy móc mà cả công nhân, thậm chí cả tạp vụ. Có những trường hợp nhà thầu đưa nhân công sang không theo quy trình nào cả, kể cả chuẩn mực tối thiểu”.

 

Khu nhà ở của công nhân Trung Quốc tại công trường Sông Bung 4 (Quảng Nam) – Ảnh: V.Hùng

 

>> Hơn 1.000 lao động Trung Quốc làm việc không phép
>> Phần lớn không có bằng cấp
>> Kiến nghị trục xuất nếu không đủ hồ sơ

Từng tham gia khảo sát thực tế tại các công trường khai thác bôxit ở Tây nguyên, chứng kiến lao động Trung Quốc chỉ làm những việc đơn giản, PGS.TS Phạm Bích San – phó tổng thư ký Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam – nói:

- Quy định pháp luật về lao động nước ngoài chúng ta có khá đầy đủ và thời gian gần đây được sửa đổi, bổ sung theo hướng chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, những gì đang xảy ra cho thấy dường như pháp luật chưa đi vào cuộc sống.

Theo tôi, vấn đề “tràn ngập lao động Trung Quốc” hiện nay có bốn lý do. Thứ nhất, chế tài chưa đủ sức răn đe. Thứ hai là hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này còn bất cập, nếu không nói là có chỗ yếu kém. Thứ ba, dư luận đặt câu hỏi về “lợi ích nhóm”, khi số lượng các công trình Trung Quốc trúng thầu quá lớn và việc họ trúng thầu chính là nguyên nhân gốc rễ của câu chuyện lao động Trung Quốc. Thứ tư, quan trọng nhất là cách nhìn của một số cán bộ quản lý ở địa phương.

Trước hết, các cán bộ quản lý này phải nhìn vấn đề lao động nước ngoài ở tầm quốc gia, ý thức được rằng pháp luật của Nhà nước phải được thực thi nghiêm túc trên tinh thần bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động Việt Nam trên chính quê hương mình.

 

 

Ảnh: L.Hoài

 

“Tôi thật sự không hiểu vì sao có tình trạng phần lớn lao động Trung Quốc ở công trường Nhân Cơ (Đắk Nông) không có bằng cấp như báo Tuổi Trẻ nêu, vì vấn đề này đã được chúng tôi đặt ra từ năm 2009 vậy mà đến nay vẫn không có chuyển biến gì:

PGS.TS Phạm Bích San

 * Có ý kiến cho rằng một số việc nhân công Việt Nam không làm được, ví dụ như lắp giàn giáo móng ở độ sâu hàng chục mét, làm việc liên tục 15-16 tiếng/ngày; đồng thời tính kỷ luật của lao động Việt Nam không cao bằng lao động Trung Quốc?

 

- Có thể trình độ lao động Việt Nam trong một số lĩnh vực nhất định còn hạn chế, nhưng trách nhiệm của các bên liên quan trước hết là chấp hành pháp luật Việt Nam, không ai có thể viện lý do này khác để vi phạm pháp luật.

Hơn nữa, đối với người lao động, chúng ta hoàn toàn có thể đào tạo và rèn luyện để họ đáp ứng được yêu cầu công việc. Nếu được quan tâm tuyển dụng và đào tạo, tôi không tin lao động Việt Nam sẽ thua kém ai.

* Lâu nay nhiều nhà thầu Trung Quốc cũng đã triển khai các dự án ở châu Phi và ồ ạt đưa lao động Trung Quốc sang đó. Rõ ràng cung cách “nhà thầu đi trước, lao động đi sau” không còn xa lạ…

- Ngay từ khi việc khai thác bôxit ở Tây nguyên mới được khởi động, dư luận đã đặt ra vấn đề này. Bây giờ nhìn rộng ra nhiều công trường xây dựng khác cũng tràn ngập lao động Trung Quốc. Vấn đề là các lao động đó không đáp ứng được quy định pháp luật của Việt Nam. Như chúng ta đã thấy, nhà thầu Trung Quốc không chỉ đưa sang Việt Nam máy móc mà cả công nhân, thậm chí cả tạp vụ.

Có những trường hợp nhà thầu đưa nhân công sang không theo quy trình nào cả, kể cả chuẩn mực tối thiểu. Để xảy ra tình trạng này, cần phải đặt ra câu hỏi về năng lực quản lý của các cơ quan chức năng ở địa phương, đồng thời các bộ ngành trung ương cũng nên thanh tra làm rõ các trường hợp như báo chí nêu để có xử lý trách nhiệm cụ thể.

* Như ông đã nói, gốc rễ của vấn đề là nhà thầu Trung Quốc trúng thầu rất nhiều công trình, dự án ở nước ta, cho nên họ mới có điều kiện để đưa lao động vào…

- Bản thân tôi từng đứng trước công trình nhà máy sản xuất alumin ở Tân Rai và chứng kiến rất nhiều lao động phổ thông Trung Quốc đang làm những công việc đơn giản, các lao động Trung Quốc đó nhất định không phải là chuyên gia hay lao động kỹ thuật cao gì cả. Như vậy, đối với các gói thầu do nhà thầu nước ngoài thực hiện thì chủ đầu tư cũng như cơ quan quản lý nhà nước phải thật sự vào cuộc, để nhà thầu ưu tiên sử dụng người lao động Việt Nam.

* Hiện nay rất nhiều lao động nước ngoài có vi phạm, liệu việc trục xuất có vướng mắc gì không?

- Theo tôi, quy định pháp luật thì phải được thực thi, còn ai, cơ quan quản lý nào bỏ qua thì phải chịu trách nhiệm. Đã sai thì phải sửa chứ không thể hợp thức hóa hay sửa sai bằng một cái sai khác. Có những giá trị không thể thỏa hiệp.

V.V.THÀNH – L.HOÀI thực hiện

 

CPMB nhận trách nhiệm

Ngày 12-8, ông Lê Thanh Tòng, phó giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Cà Mau, cho biết qua làm việc với sở vào ngày trước đó, lãnh đạo Ban quản lý dự án cụm khí – điện – đạm Cà Mau (CPMB) đã nhận trách nhiệm vì không đôn đốc kịp thời để xảy ra tình trạng lao động Trung Quốc trái phép ở công trường Nhà máy đạm Cà Mau.

Theo ông Tòng, thông tin mới nhất từ CPMB cho thấy trong số hơn 1.000 lao động Trung Quốc làm việc không phép tại công trường Nhà máy đạm Cà Mau, có 607 công nhân thuộc diện phải lập thủ tục xin phép lao động, CPMB hứa sẽ hoàn tất việc này trước ngày 19-8. Số lao động còn lại làm việc dưới ba tháng, CPMB hứa sẽ yêu cầu nhà thầu báo cáo danh sách lao động và gửi hồ sơ đầy đủ cho cơ quan chức năng.

Ông Tòng cũng nói đã nhận được văn bản của Bộ LĐ-TB&XH yêu cầu UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo kiểm tra tình hình lao động Trung Quốc làm việc trái phép, nếu phát hiện sai phạm phải xử lý theo quy định. Sở LĐ-TB&XH tỉnh Cà Mau đang làm báo cáo gửi UBND tỉnh về vấn đề này. 

CHÍ QUỐC

 

 

 “Xử lý rốt ráo lao động làm chui”

Đề cập vấn đề lao động Trung Quốc tại các công trình nhà máy điện, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Trần Minh Cả nói:

- Thông qua nhiều kênh tỉnh đều nắm được tình hình. Từ Sở Lao động – thương binh và xã hội đến công an và chính quyền sở tại đều nắm rất rõ số lượng công nhân Trung Quốc hoạt động trên địa bàn. Không phải cứ nhà thầu muốn đến đây làm gì cũng được.

* Vậy chính quyền tỉnh sẽ làm gì với số công nhân Trung Quốc đang lao động chui tại đây?

- Sở Lao động – thương binh và xã hội tỉnh đang theo dõi nắm bắt tình hình lao động rất kỹ, nhiều lần xử lý nhưng chưa có hiệu quả. Họ đến đây lao động cũng phải có dây chuyền từ con người đến máy móc. Nhưng đến với số đông và lách luật là không được.

Lần này tỉnh chỉ đạo Sở Lao động – thương binh và xã hội và các ngành liên quan đến quản lý lao động người nước ngoài phải rà soát tất cả các công trường lần cuối. Nếu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân nào vi phạm thì phải xử lý. Sẽ xử lý rốt ráo, đặc biệt là lao động Trung Quốc trái phép, xử lý đúng luật pháp Việt Nam.

* Cụ thể, mức xử lý là gì?

- Không có giấy tờ, không đủ điều kiện thì trục xuất, bất kể là công dân nước nào. Lao động nước ngoài vào Việt Nam làm chui đều phải xử lý hết.

TẤN VŨ

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.