Lưu trữ

Posts Tagged ‘kinh tế việt nam’

“BỨC TỬ” NGHỀ MUỐI (*) Thừa muối, nhập làm gì!

Muối ngoại đáp ứng được tiêu chuẩn sản xuất công nghiệp trong nước, giá lại “mềm” hơn nên các doanh nghiệp tranh thủ nhập. Khi nào nước ta có ngành sản xuất muối công nghiệp đúng nghĩa thì muối nội mới có đất sống

Trả lời phóng viên Báo Người Lao Động, Bộ Công Thương cho biết hạn ngạch (quota) nhập khẩu muối năm 2011 là 102.000 tấn, gồm 100.000 tấn muối công nghiệp cho sản xuất hóa chất và 2.000 tấn muối tinh khiết cho sản xuất thuốc, sản phẩm y tế. Trong đó, đã phân giao hơn 50.000 tấn vào đầu năm 2011 và hiện đang phân giao 50.000 tấn còn lại. Trong khi đó, tính đến hết tháng 8 vừa qua, lượng muối tồn kho lên đến 217.000 tấn, cân đối cả năm thì nguồn cung vượt cầu khoảng 100.000 tấn, đáp ứng được cho tiêu dùng trong nước cũng như các ngành nghề khác. Vậy tại sao phải nhập thêm 50.000 tấn?

Do không mua được muối trong nước (?!)

Bộ Công Thương cho biết thêm: Để giải quyết khó khăn về nguyên liệu cho sản xuất hóa chất, đồng thời bảo đảm việc hỗ trợ tiêu thụ muối cho diêm dân, ngày 13-7, Bộ Công Thương đã chủ trì tổ chức cuộc họp với Bộ NN-PTNT, mời một số doanh nghiệp (DN) sản xuất muối và 3 DN sử dụng muối công nghiệp để sản xuất hóa chất. Tuy nhiên, các DN sản xuất muối đã không đến dự.
Sản xuất muối tại huyện Đông Hải – Bạc Liêu. Giá muối ở đây đang ở mức thấp. Ảnh: DUY NHÂN

Tại cuộc họp, các DN sản xuất hóa chất phản ánh tình trạng không mua được muối trong nước có chất lượng phù hợp mặc dù đã liên hệ với các DN sản xuất muối, đã gửi công văn đề nghị nhưng các DN này hoặc không trả lời hoặc trả lời không có khả năng cung ứng muối theo yêu cầu. Vì vậy, các DN sản xuất hóa chất tiếp tục đề nghị Bộ Công Thương xem xét phân giao hạn ngạch nhập khẩu muối đợt 2 để bảo đảm nguyên liệu cho sản xuất theo kế hoạch.
Tháng 8-2011, Bộ NN-PTNT và Bộ Công Thương phối hợp tổ chức đoàn công tác trực tiếp làm việc với các đơn vị sản xuất muối công nghiệp tại khu vực miền Trung và các đơn vị có nhu cầu dùng muối công nghiệp phục vụ sản xuất hóa chất. Sau đó, trong công văn trả lời Bộ Công Thương, Bộ NN-PTNT nêu rõ: “… Hiện đã vào cuối vụ sản xuất muối năm 2011 nên các DN muối công nghiệp không thể đáp ứng yêu cầu về chất lượng, số lượng của các DN sản xuất hóa chất và đã có kế hoạch sản xuất muối phục vụ các ngành khác”.
Vì vậy, Bộ NN-PTNT thống nhất phân giao đợt 2 lượng hạn ngạch nhập khẩu muối còn lại của năm 2011 cho các DN làm nguyên liệu sản xuất hóa chất. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương xem xét, tiến hành phân giao đúng đối tượng là các DN trực tiếp sử dụng muối cho sản xuất hóa chất, không được phép trao đổi kinh doanh thương mại và sử dụng cho các mục đích khác.

Chạy theo lợi ích cục bộ

Tuy nhiên, theo lãnh đạo một DN muối tại miền Trung, vì giá muối nhập khẩu “mềm” hơn giá trong nước, đồng thời được hưởng mức thuế suất 15% trong hạn ngạch (ngoài hạn ngạch là 50%) nên các DN sản xuất hóa chất tranh thủ nhập càng nhiều càng tốt! Ông Trần Quang Phụng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Muối miền Nam, cho rằng muối nào cũng là muối, muối đưa vào sản xuất công nghiệp thì được đặt tên là muối công nghiệp, nếu đưa vào chế biến thì được gọi là muối thực phẩm. “Cách định danh chẳng qua là cái cớ để các DN sản xuất hóa chất đưa ra tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn nọ nhằm đề xuất cơ quan chức năng cấp hạn ngạch nhập khẩu muối.
Việc nhập khẩu muối không chỉ ảnh hưởng đến diêm dân mà còn ảnh hưởng đến DN sản xuất, kinh doanh muối trong nước. Nhà nước cũng không nên áp dụng hạn ngạch mà hãy để DN nào có nhu cầu nhập (với thuế suất 50%) thì cho nhập, từ đó mới tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các DN trong ngành” – ông Phụng nói.

Đại diện Hiệp hội Nghề muối phía Nam cho rằng việc cấp hạn ngạch nhập khẩu muối chỉ làm lợi cho một số DN nhưng lại làm hại cả ngành muối trong nước. Các bộ, ngành cần phải nghiên cứu, tìm ra chính sách ổn định giá muối để gỡ khó cho diêm dân.

Lối ra: Muối công nghiệp

Vấn đề cốt lõi khiến nghịch lý muối thừa mà vẫn nhập kéo dài những năm qua là do ngành sản xuất muối công nghiệp của nước ta chậm phát triển. Theo giới chuyên môn, muối công nghiệp khác muối ăn. Muối công nghiệp được dùng nhiều trong ngành công nghiệp sản xuất hóa chất, dự báo sắp tới tiếp tục xảy ra tình trạng cung không đủ cầu, tức là có thể sẽ xin mở hạn ngạch để… mua thêm muối ngoại !

Chính sách của Nhà nước là khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư nhà máy để sản xuất, chế biến muối công nghiệp nhưng phần vì vốn đầu tư cao, phần vì các DN chế biến thích “ăn xổi” nên năm nào cũng phải nhập khẩu muối, làm cho diêm dân không ngóc đầu lên nổi. Vì vậy, trong mối quan hệ Nhà nước – DN muối – diêm dân, rất cần một “tư lệnh” luôn sát cánh lèo lái và vực dậy ngành muối cả nước vốn đang đuối sức.

Đừng để diêm dân tự “bơi”

Cách đây 5 năm, khi nhà máy muối tinh chất lượng cao Sa Huỳnh (huyện Đức Phổ – Quảng Ngãi) được đầu tư xây dựng ngay bên cạnh cánh đồng muối Sa Huỳnh lớn nhất miền Trung với tổng vốn đầu tư hơn 5 tỉ đồng, diêm dân hớn hở, hy vọng từ đây đời sống sẽ khá hơn. Thế nhưng, chỉ sau một thời gian hoạt động, nhà máy không thu mua muối do diêm dân địa phương sản xuất mà chuyển sang mua muối từ các tỉnh bạn với lý do muối Sa Huỳnh làm trên nền đất nên tạp chất quá nhiều. Vậy là diêm dân ở đây phải quay trở lại bám mặt ruộng kiếm cơm qua ngày, nhiều hộ bỏ nghề. Theo UBND xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, toàn xã có 867 hộ làm muối với tổng diện tích 112 ha, hiện tồn đọng hàng trăm tấn muối.

UBND tỉnh Quảng Ngãi trước đây đã phê duyệt dự án quy hoạch đồng muối Sa Huỳnh thành vùng sản xuất chuyên canh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nhưng dự án bị treo suốt mấy năm nay. Ông Phan Huy Hoàng, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Ngãi, thừa nhận: “Thật tình mà nói, chất lượng muối Sa Huỳnh hiện nay chỉ có thể dùng để ướp cá, làm mắm thôi. Nếu muốn bán được, diêm dân cần phải tự đầu tư nền xi măng thay cho nền đất và chú trọng chất lượng hơn là số lượng thì may ra có thể cạnh tranh được với muối ngoại”.
N.Hà
NHÓM PHÓNG VIÊN

Khoảng cách giá gạo Thái Lan – Việt Nam gia tăng

Nguồn: Agromonitor.

(TBKTSG Online) – Giá gạo Thái Lan tiếp tục tăng lên mức cao nhất trong vòng gần 3 năm nay, do nhu cầu bốc xếp lớn cho các đơn đặt hàng từ Nigeria, và kỳ vọng vào chương trình can thiệp của chính phủ mới, trong khi gạo Việt Nam tiếp tục giảm trong bối cảnh nhu cầu thấp và hầu hết khách hàng chỉ đứng ngoài thị trường quan sát.

Gạo 100% B của Thái hôm 7/9 tăng lên 640 đô la/tấn, mức cao chưa từng có kể từ tháng 10/2008. Một tuần trước đây loại gạo này giá 615 đô la/tấn.

Reuters dẫn lời một thương gia ở Bangkok cho biết: “Các nhà xuất khẩu buộc phải tăng giá chào bán bởi các nhà máy xay xát tăng giá”, và thêm rằng hầu hết các nhà máy trong nước găm hàng lại chờ đến khi chính phủ mới thực hiện chương trình can thiệp như đã hứa, bắt đầu từ tháng tới.

Hôm 6/8 chính phủ Thái Lan thông báo họ sẽ bắt đầu chương trình can thiệp vào tháng 10, sớm hơn 1 tháng so với dự kiến, theo đó sẽ mua lúa của dân với giá 15.000 baht/tấn, gần gấp đôi mức giá khoảng 8.000 baht trên thị trường hiện nay.

Các nhà xuất khẩu cho biết các nhà máy xay xát chào bán giá gạo lên tới 584 đô la/tấn, tăng mạnh so với chỉ một tuần trước đây.

Ngoài ra, việc nhiều nhà xuất khẩu đang thực hiện hợp đồng với Nigeria cũng góp phần đẩy giá gạo tăng, với khối lượng cần thu gom lên tới 100.000 tấn.

Thái Lan – nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, nhằm mục tiêu xuất khẩu trên 10 triệu tấn gạo trong năm nay, từ mức 9 triệu tấn  năm ngoái. Mặc dù lũ lụt song sản lượng gạo Thái Lan năm 2011/12 dự kiến sẽ vẫn đạt khoảng 25,1 triệu tấn, cao hơn mức 24 triệu tấn năm ngoái.

Trái với xu hướng tại Thái Lan, giá gạo Việt Nam tiếp tục giảm bởi nhu cầu mới rất thấp. Các nhà xuất khẩu có thái độ quan sát và chờ đợi. Họ cũng sẽ giao dịch cầm chừng cho tới khi chính phủ Thái Lan bắt đầu can thiệp, với hy vọng giá sẽ tăng lên.

Giá chào bán gạo 5% tấm của Việt Nam giảm xuống 550-580 đô la/tấn, FOB, từ 560-565 đô la một tuần trước đây. Gạo 25% tấm cũng giảm xuống 510-520 đô la/tấn, từ 525-530 đô la/tấn.

Việt Nam – nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, có kế hoạch tăng xuất khẩu gạo lên 7 triệu tấn trong năm nay.

Dự báo xu hướng tăng giá gạo Thái sẽ còn tiếp tục tăng trong tháng này, lên khoảng 750-800 đô la/tấn.

Giá gạo thế giới (đô la/tấn)

Loại/xuất xứ Giá 7/9/2011 Giá 31/8/2011
Thái Lan  -  -
100% B 640 615
Việt Nam  -  -
5% tấm 550-580 560-565
25% tấm 510-520 525-530
Pakistan  -  -
5% tấm 520 -
25% tấm 460 -

Nguồn: Reuters

Chuyên gia nước ngoài khuyến nghị Chính phủ thúc đẩy cải cách

picture

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong một lần trao đổi với Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), ông Haruhiko Kuroda – Ảnh: Reuters.


Phần lớn các chuyên gia quốc tế tham dự cuộc gặp mặt với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sáng 6/9 tại Hà Nội có chung nhận định rằng Việt Nam cần thúc đẩy tái cơ cấu khối ngân hàng và doanh nghiệp, nhằm khắc phục những yếu kém nội tại trong nền kinh tế và tạo đà cho giai đoạn phát triển mới.

Trước đó, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ đã có cuộc gặp mặt với 30 chuyên gia kinh tế trong nước vào ngày 20/8 vừa qua.

Tại cuộc gặp sáng 6/9, ngoài Thủ tướng, có tới gần 10 vị lãnh đạo cấp bộ trưởng, thứ trưởng. Ở phía đối diện, 17 vị chuyên gia nước ngoài, trong đó có những người từng làm việc nhiều năm ở Việt Nam, đã chuẩn bị các bản tham luận khá công phu.

Tham vấn ý kiến các chuyên gia, trong đó chủ yếu đến từ các nhà tài trợ cho Việt Nam, là công việc từng được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành hàng năm, nhưng điểm mới của năm nay là Thủ tướng Chính phủ đích thân sang Bộ để chủ trì cuộc gặp.

Theo bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, những kết quả mà Việt Nam đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội như tốc độ tăng trưởng đạt khá (5,4% trong quý 1 và 5,7% trong quý 2), xuất khẩu tăng mạnh, tỷ giá hối đoái ổn định; dự trữ ngoại tệ tăng; công tác an sinh xã hội đạt được những kết quả tích cực… sẽ là tiền đề để Việt Nam tiếp tục phát và đạt tăng trưởng cao hơn trong năm 2012 và những năm tiếp theo.

Tuy nhiên, vị đại diện của WB cũng cho rằng bên cạnh những “tin tốt”, còn có nhiều “tin xấu” như lạm phát cao; xuất khẩu chưa tốt; lãi suất cho vay còn cao; cam kết FDI giảm… là những vấn đề mà Việt Nam cần giải quyết.

Nói về tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, bà Victoria Kwakwa đưa ra một số so sánh, chẳng hạn mức lạm phát 23% so với cùng kỳ là cao nhất châu Á hiện tại.

Đồng nội tệ cũng dao động mạnh trong bốn năm qua và là đồng tiền duy nhất ở châu Á giảm giá so với USD; trong khi dự trữ ngoại tệ tính theo tuần nhập khẩu hiện chỉ ở mức 8 tuần, mức thấp nhất kể từ năm 1994, trong bối cảnh hầu hết các nước châu Á khác đều tăng dự trữ ngoại tệ.

Hiện trạng này đòi hỏi Chính phủ phải quyết tâm hơn nữa trong việc tiếp tục các giải pháp nhằm cấu trúc lại khối ngân hàng và doanh nghiệp để lành mạnh hóa nền kinh tế, từng bước phục hồi.

Trong khi đó, ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam và Lào nói rằng trong thời gian tới, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa việc tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiệu quả và bền vững.

Theo ông, Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với những vấn đề kế thừa từ quá khứ, chẳng hạn như lạm phát, nợ công, nợ của khu vực doanh nghiệp. Không chỉ vậy, một vấn đề khác là dường như sự quan tâm đến cải cách cơ cấu đang ít đi.

Việc tái cơ cấu khối ngân hàng và doanh nghiệp cần được thực hiện ngay và Chính phủ cần thể hiện điều đó thông qua việc đưa ra các tiêu chuẩn mới, chẳng hạn phải áp dụng ngay một Chương trình đánh giá ổn định tài chính.

Vị đại diện của IMF nói, sự chậm lại của cải cách cơ cấu trong hai năm qua là dễ hiểu, nhưng đã đến lúc Chính phủ cần có tín hiệu cụ thể rằng sẽ lấy lại động lực cải cách, qua đó mang lại hy vọng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Trong phần phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục kiên trì thực hiện Nghị quyết 11, trong đó ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.

Hiện, lạm phát của Việt Nam đang có xu hướng giảm và sẽ kiềm chế trong năm 2011 ở mức 18%, và mục tiêu trong năm 2012 là sẽ đưa lạm phát xuống còn một con số; tăng trưởng GDP năm 2011 được kỳ vọng ở mức khoảng 6%.

Thủ tướng cũng cho biết trong năm 2011, Việt Nam sẽ tiếp tục các giải pháp nhằm đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán ở mức tăng dưới 15%; kiểm soát tỷ giá và giữ được ổn định về tỷ giá; giảm lãi suất theo hướng đi liền với giảm lạm phát.

“Việt Nam thấy rõ những mặt đã đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và sẽ quyết tâm bằng nội lực, phát huy sức mạnh của của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, hợp tác nhiều hơn nữa của các chuyên gia, các nhà tài trợ, cộng đồng quốc tế…, nhất là trong tư vấn về chính sách, hỗ trợ nguồn lực để Việt Nam thực hiện thành công các mục tiêu đề ra”, Thủ tướng nói.

Giá nhà đất quá cao do “một số người kiếm tiền quá dễ”

Đầu cơ đất đai từ trước đến nay vẫn được cho là siêu lợi nhuận – Ảnh: Từ Nguyên.

Báo cáo tình hình thị trường bất động sản gần đây của Bộ Xây dựng cho thấy, tình trạng đầu cơ, thổi giá vẫn diễn ra phổ biến trên thị trường bất động sản.

Nguyên nhân được cơ quan quản lý đưa ra thì có nhiều, từ cơ chế, chính sách, quản lý chưa chặt chẽ đến vấn đề mất cân đối cung cầu, đầu cơ thổi giá…

Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài Nguyên và Môi trường) ông Tôn Gia Huyên, lại cho rằng việc để xảy ra tình trạng đầu cơ, giá ảo trên thị trường bất động sản hiện nay có nguyên nhân chính từ việc “tiền dùng để mua bất động sản được người ta kiếm quá dễ”.

Trao đổi với VnEconomy, ông Huyên nói:

- Nhà nước hiện nay thừa nhận việc đầu cơ trên thị trường bất động sản là phổ biến nhưng để khắc phục được việc này thì phải có một hệ thống giải pháp, trước hết là việc quản lý hồ sơ đất đai minh bạch, rõ ràng và dễ tiếp cận.

Phải có một loạt các chính sách điều tiết, nhất là về thuế bởi hệ thống thuế của chúng ta hiện có nhiều bất cập, chưa đồng bộ, đặc biệt là về quyền sử dụng đất, thuế giá trị gia tăng về đất đai, thậm chí là thuế đất, nắm giữ tài sản…

Còn nói về mấu chốt của tình trạng đầu cơ thì nó đến từ hai phía, trong đó có sự lỏng lẻo của nhà nước và sự hám lợi của một bộ phận người dân lắm tiền, nhiều của.

Nếu nhà nước mạnh tay thì có thể sẽ hạn chế được phần nào. Đồng thời phải làm sao để ý thức công dân phải được nâng cao hơn nữa, giúp toàn xã hội kiềm chế được lòng tham, hạn chế được các hành vi sai trái.

Nhưng theo ông, trong bối cảnh hiện nay, ngăn đầu cơ đất đai có phải là chuyện dễ?

Tất nhiên là một việc khó rồi, nhưng không có nghĩa là không làm được. Suy cho cùng, đầu cơ đất đai là một hoạt động tất yếu của thị trường bất động sản, nếu nhà nước quản lý kém thì tất yếu đầu cơ sẽ nhiều, nếu làm chặt thì đầu cơ ít.

Tuy nhiên, nếu chỉ mạnh về năng lực quản lý thôi cũng chưa đủ mà chúng ta phải mạnh về sơ sở vật chất, phải có nhiều hàng hóa bởi đây mới chính là cơ sở để điều tiết thị trường.

Yếu tố đầu cơ lũng đoạn có phải là nguyên nhân khiến giá nhà đất ở Việt Nam hiện nay quá cao, vượt qua giá trị thật của nó?

Tôi nghĩ giá cả bất động sản hiện nay rất bất thường. Nhưng tại sao người ta dám bỏ ra rất nhiều tiền chỉ để mua một mảnh đất? Tôi cho rằng, bởi vì tiền họ kiếm được quá dễ, còn những người kiếm tiền bằng sức lao động thì không bao giờ mua được nhà, đất tại Hà Nội.

Về mặt xã hội, 1m2 đất có giá 1 tỷ đồng thì không có người nào dám bỏ tiền ra để mua nếu đồng tiền đó họ kiếm được bằng sức lao động của họ, chẳng qua đồng tiền đó họ lấy từ đâu đó một cách dễ dàng nên họ chi cũng rất dễ dàng. Thế nên mới có tình trạng giá ảo và đầu cơ nhiều.

Tất nhiên, ở đây có vấn đề về chính sách. Nhà nước phải làm sao thỏa mãn được nhu cầu sở hữu về đất đai với tư cách là người chủ sở hữu, vì nhà nước nắm hết toàn bộ tài nguyên của đất nước thì phải có trách nhiệm cung cấp hết cho người dân tài nguyên đó, giá đất tăng lên cũng phản ánh cầu vượt cung và như thế nhà nước phải có biện pháp để hạn chế.

Còn nếu không phải là vấn đề cung – cầu thì nhà nước phải xử lý theo hướng khác. Phải kiểm tra ngay những đồng tiền mà doanh nghiệp, cá nhân nào mua được tài sản đó. Tôi nghĩ điều này hoàn toàn nhà nước có thể làm được.

Ônng đang nói đến nhóm lợi ích?

Tất nhiên là có chuyện đó. Họ hoạt động nhưng nhà nước không kiểm soát được do hệ thống chính sách của mình chưa đủ mạnh để xử lý được vấn đề này.

Khi ông còn đương chức, việc quản lý đất đai có khó như bây giờ không thưa ông?

Tất nhiên là không khó như bây giờ vì hồi tôi còn làm quản lý, thị trường đất đai chưa hình thành sôi động như bây giờ. Còn hiện nay thị trường sôi động hơn, nhiều mối quan hệ và nhiều chủ thể tham gia hơn nên phức tạp hơn nhiều.

Ngay cả chuyện kinh tế hóa ngành tài nguyên đất đai là chủ trương đúng nhưng nó cũng có hai mặt. Đất đai chỉ nên kinh tế hoá trên cơ sở nền tảng kinh tế ổn định, tức là phải đảm bảo an sinh rồi có mới có những ngành, nhánh để hoạt động được.

Xin hỏi, thu nhập của ông khi còn làm “quan” có đủ mua đất Hà Nội không?

Tôi nói thực, thu nhập của tôi chỉ đủ mua 1m2 đất Hà Nội. Còn lương Phó chủ tịch Hội Khoa học đất hiện nay của tôi thì cũng khó mà mua được nửa m2 đất.

Đứng về mặt quản lý đất đai, tôi nghĩ phải xử lý rất đồng bộ, từ quy hoạch, xây dựng quy hoạch đến việc phân bổ lại đất đai, cân đối lại lao động, khoanh vùng quy hoạch lại để ổn định cho từng vùng… mới mong giá nhà đất giảm xuống được. Tất nhiên kèm theo đó phải quyết liệt chống tham nhũng để giúp cho giá đất đai được ổn định, đảm bảo không có giá ảo.

Có ý kiến cho rằng, thị trường “rối” như hiện nay có nguyên nhân từ một số người tham mưu về chính sách và cơ chế quản lý đất đai lại chính là những người không bao giờ phải lo chuyện nhà cửa?

Cái này ảnh hưởng phần ít thôi vì nhu cầu nhà cửa không ảnh hưởng nhiều lắm đến việc hoạch định chính sách của họ. Hơn nữa việc hoạch định chính sách này không phải là một cá nhân nào mà thuộc về hệ thống, cộng đồng quản lý chính sách chứ không phải một cá nhân nào quyết định. Vấn đề ở chỗ là có tổ chức được lực lượng đó hay không và năng lực của người tổ chức đó như thế nào.

Theo ông, giá đất trong tương lai liệu có trở về giá trị thực không?

Tôi nghĩ là trong tương lai giá đất phải về tiệm cận với thị trường, tuy nhiên vấn đề quản lý rất quan trọng, nhà quản lý phải nắm được từng thửa đất, định giá đến được từng thửa đất theo giá thị trường.

Vì theo lý thuyết kinh tế thì không có thửa đất nào giống thửa nào, không có bất động sản nào giống bất động sản nào cả, định giá chỉ là sự ước lượng.

Bên cạnh đó, do công tác định giá hiện nay chưa đạt được yêu cầu sát thị trường vì hiện nhà nước đang đứng ra định giá trong khi việc này dáng nhẽ phải là của thị trường làm, phải có cơ chế nào đó để giá phản anh đúng với cơ chế thị trường.

Giữ vàng hộ dân: Nên hay không?

Thời gian gần đây, trước khẳng định của đại diện NHNN về việc các Ngân hàng thương mại chỉ làm chức năng “giữ tiền hộ dân”, và trước những biến động bất ổn của thị trường vàng, dư luận đang đặt vấn đề có khả năng tới đây, NHNN cũng sẽ xem xét tiến tới “giữ vàng dài hạn hộ dân”? Theo Th.S Trần Trọng Quốc Khanh – Giám đốc Trung tâm Vàng ACB, việc“giữ vàng dài hạn hộ dân” là một trong những giải pháp thuộc các giải pháp liên hoàn có thể giúp khơi thông vốn, và ổn định thị trường vàng mà NHNN cần sớm tính đến. DĐDN đã có cuộc trao đổi với Th.S Trần Trọng Quốc Khanh xung quanh vấn đề này.

- Ông từng nói rằng NHNN giữ vàng dài hạn sẽ tốt hơn nhiều so với người dân. Vậy ông có thêrể cho biết cơ sở của nhận định này ?

Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cả những công cụ sẵn có, tôi cho rằng NHNN có đầy đủ nguồn lực để thực hiện việc “giữ vàng dài hạn” tốt hơn so với người dân. Hiện nay, chúng ta vẫn còn duy trì cơ chế cấp phép quota xuất nhập vàng ngắn hạn, trong từng thời điểm. Ở chiều xuất khẩu, đối tác nước ngoài luôn sẵn sàng mua vàng của ta theo sát giá vàng thế giới. Còn ở chiều nhập khẩu, hầu như khi nào ta có nhu cầu, đối tác nước ngoài cũng sẵn sàng bán lại vàng cho ta với mức giá đang giao dịch trên thị trường. Hai chiều này chưa tính lượng vàng xuất nhập khẩu phi chính thức do NHNN cấp quota, mà sự lũng đoạn giá vàng từ đó là có thể xảy ra và rất khó kiểm soát.

Thay vì để tình trạng DN, người dân bị động, thị trường có thể bị lũng đoạn, NHNN nên xem xét sẵn sàng mua lại vàng của dân sát giá thế giới quy đổi, và bán ra khi cung trong nước tăng lên vượt cầu. Việc thu mua hay bán lại đều có thể tổ chức thông qua những đơn vị đầu mối đấu thầu hoặc chỉ định.

- Với nguồn lực (dự trữ ngoại hối quốc gia) còn khá thấp như hiện nay, việc mua vàng và giữ dài hạn hộ dân liệu có khả thi, thưa ông ?

Dĩ nhiên với tư cách là chủ thể tham gia thị trường, NHNN cần xem xét và tính đến bảo hiểm rủi ro giá cho lô hàng đã mua, cụ thể ở đây là lượng vàng đang “giữ hộ dân” trong từng thời điểm. NHNN cũng sẽ có rất nhiều lựa chọn để giải quyết “đầu ra” cho việc giữ vàng. Thứ nhất, giữ toàn bộ số vàng vật chất trong kho dự trữ quốc gia. Đây là lựa chọn kém hiệu quả nhất, sẽ gây nhiều chất vấn tại sao giữ số vàng lớn trong kho không sinh lợi. Thứ hai, giữ một phần trong nước để chủ động bán can thiệp thị trường khi cần thiết, nhất là khi giá trong nước cao hơn giá thế giới, dẫn tới động cơ nhập khẩu vàng. Thứ ba, gửi một phần ra nước ngoài và có thể dùng số vàng ký gửi này làm tài sản đảm bảo để tiếp cận các nguồn vốn đa phương cấp quốc gia hoặc cho các mục đích khác. Ngoài ra, NHNN cũng có thể tham gia các nghiệp vụ bán vàng tài khoản để bảo hiểm số vàng vật chất đã mua trong nước. NHTW của nhiều quốc gia đã và đang thực hiện nghiệp vụ này.

NHNN có thể gia tăng vị thế và sức mạnh can thiệp từ việc bổ sung vàng trong dự trữ quốc gia,
duy trì được số vàng trong dân chứ không để “chết vốn” như hiện tại
Xét về nguồn lực, trong 6 tháng đầu năm 2011, NHNN đã mua thêm được hơn 4 tỷ USD để bổ sung vào dự trữ ngoại hối quốc gia, đủ bù đắp được nhiều tuần nhập khẩu. Đặc biệt, lượng vàng theo tính toán của Hội đồng Vàng thế giới còn trữ lại trong dân là rất lớn. Trước mắt, để gia tăng nguồn USD và xuất siêu, vẫn có thể duy trì xuất khẩu vàng ngắn hạn để lấy ngoại tệ về. Muốn ổn định thị trường, tất nhiên NHNN sẽ phải chịu chi phí vốn cho  trạng thái tài khoản vàng ở đối tác nước ngoài, tốn công sức điều tiết linh hoạt lượng cung tiền hay chấp nhận những tác động của vấn đề cung tiền tới tỷ giá… Nhưng xét trong dài hạn, việc bỏ chi phí vốn, điều tiết cung tiền, mất công sức điều chỉnh sổ sách kế toán của NHNN… là những việc đáng phải làm, là “cái giá” cần đánh đổi để thị trường vàng ổn định, liên thông với thị trường thế giới.

- Trong trường hợp NHNN chọn giữ hộ vàng cho dân, điều tiết thị trường bằng phương thức mua, bán linh hoạt thì liệu thị trường vàng có thực sự thoát khỏi bức tranh “méo mó” như hiện tại ?

Tất nhiên là có! Điều đó sẽ mang lại những lợi thế lớn cho NHNN và cả thị trường vàng. NHNN có thể gia tăng vị thế và sức mạnh can thiệp từ việc bổ sung vàng trong dự trữ quốc gia, duy trì được số vàng trong dân chứ không để “chết vốn” như hiện tại. Vàng cũng không giảm vì xuất khẩu và ngược lại NHNN sẽ không phải bận tâm việc cấp quota vàng miếng dập cho các DN nữa. Điều đó cũng tạo niềm tin cho người dân và cho thị trường, đảm bảo sự bình đẳng về giá và bảo vệ được quyền lợi của người dân. DN muốn mua được vàng của dân, buộc phải nâng giá lên theo sát giá thế giới hoặc bằng giá chào mua của NHNN, nhờ đó triệt tiêu động cơ xuất khẩu vàng. Thị trường vàng không có lý do gì để không bình ổn nữa. Một yếu tố khác cần tính đến là lạm phát sẽ tác động đến thị trường vàng, khi vàng được xem là kênh trú ẩn an toàn trong lạm phát. Nhưng khi vàng ổn định, nếu cầu vàng tăng thì NHNN nên chủ động tăng cung vàng… Đó là một sự phối hợp khéo léo mang tính thị trường.

- Thử đặt vấn đề ngược lại, nếu NHNN không chọn phương án “giữ vàng dài hạn hộ dân”, có phương án nào khả thi hơn?

Để thị trường thật sự được tự do và ổn định theo quy luật thị trường giữa lúc mà NHNN không chọn giải pháp giữ vàng hộ dân, thì cần phải xem xét tháo gỡ mọi hàng rào quota xuất nhập khẩu vàng và để các dòng chảy vàng lưu thông theo cung cầu của thị trường. Tuy nhiên, với thực trạng của nền kinh tế và đặc biệt là trong bối cảnh này, đó cũng là một liệu pháp cần tính toán lộ trình. Nếu không, sẽ gây hệ lụy cho nền kinh tế với sự biến động bất thường của thị trường vàng, áp lực tới tỷ giá và bất ổn xã hội nói chung.

- Xin cảm ơn ông!

Lê Mỹ thực hiện

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.